Được tạo bởi Blogger.
Hiển thị các bài đăng có nhãn KinhNghiem. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn KinhNghiem. Hiển thị tất cả bài đăng

12/4/17

KINH NGHIỆM HỌC TẬP NĂM NHẤT - HK1

[NĂM NHẤT – HỌC KỲ 1]

Học kỳ đầu các bạn sẽ học Đại cương bao gồm các môn sau:
Toán Cao Cấp 1(3TC), Vật lý đại cương(4TC), Hóa đại cương(2TC), Hình học họa hình(2TC), Xây dựng nhập môn(2TC).
Các môn học trên đều thuộc giảng dạy của khoa Khoa học cơ bản, Văn khoa tại phòng A201.

Cùng chia sẻ với các bạn năm Nhất kinh nghiệm học tập để đạt kết quả tốt nhất trong kỳ đầu tiên này. Đặc biệt là kỳ có kiến thức gần với bậc THPT nhất, các môn đại cương có số chỉ cao nên sẽ là lợi thế và động lực trong suốt quá trình học tập 5 năm của các bạn.

TOÁN CAO CẤP 1
Nên lưu ý một số điều sau đây:
1/ Nên nắm bài ngay trên lớp, về nhà coi lại lý thuyết rồi làm các dạng của phần đó cho nhớ;
2/ Nên học những phần mà giảng viên dạy và nhấn mạnh vì những phần đó sẽ ra cuối kì, tham khảo bài tập của các lớp khác;
3/ Cố gắng đạt điểm tối đa giữa kì tạo thuận lợi cho thi cuối kì, đặc biệt là tích cực tham gia phát biểu, không chỉ cộng điểm giữa kỳ mà bạn còn bắt kip bài tốt hơn và luyện kỹ năng giải BT;
4/ Thời gian nghi trước khi thi nên lên trường học nhóm, ở đó dễ dàng lấy lại kiến thức thông qua việc trao đổi và làm bài tập với nhau;
5/ Về cấu trúc đề thì từ 4 or 5 câu mức độ từ thấp đến cao, riêng câu khó thướng là tích phân chiếm từ 1 dến 2đ. Xếp hạng học chế tín chỉ ta chi cần 8,5d là loại A nên nếu giữa kì được 3đ rối thì chỉ cần cuối kì 8đ la được vì vậy không nên cố gắng vào câu khó mà hãy làm chắc từng câu một...

HÓA HỌC ĐẠI CƯƠNG
- Kiến thức của hóa đại cương khá giống hóa lớp 10, với môn này ta sẽ được học về cấu tạo hạt nhân, nguyên tử...và thêm một số kiến thức mới cũng không quá khó;
- Hình thức thi môn này là trắc nghiệm đối với cuối kì, còn giữa kì là làm bài tự luận hoặc thuyết trình;
- Để qua được môn này thì cần nắm được lí thuyết, vận dụng làm bài tập..
- Và hình như để ôn cuối kì thì có một tập trắc nghiệm của máy năm trước để lại hoặc liên hệ giảng viên. Những năm trước ôn chắc tập trắc nghiệm có thể được 70% điểm.
- Nên giải bài tập và trao đổi nhóm trước khi thi.

VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG
- Từ nền tảng của vật lý cấp 3 và mở rộng, nâng cao lên. Gồm 3 chương: Cơ, Điện, Điện từ trong đó chương Cơ, Điện là nòng cốt của đề thi, điện từ thi do có các kiến thức phải học toán 3 mới có thể giải toán được nên chương này chỉ ra một câu và không phải tính toán nhiều.
- Vì vậy đề thi chiếm nhiều bài tập ở cơ và điện, đề thi có khoảng 3-4đ lý thuyết dưới dạng trả lời( bao gồm lý thuyết thuần túy và vận dụng lt để giải thích một số hiện tượng trong thực tế), còn lại là bài tập: 2 bài cơ(động, động lực....kiến thức khá giống lý cấp 3), 1 bài điện, 1 bài diện từ nhưng không yêu cầu tính toán nhiều...
- Môn này 4 chỉ nên các bạn cần tập trung học để đạt kết quả tốt nhất.
- Cuối cùng cần có sự may mắn khi thi môn này( gv ra đề vừa sức, cầm trúng tài liệu có bài tương tự với đề thi ^^

HÌNH HỌC HỌA HÌNH(XD)
- Hình học họa hình - khá mới mẻ, được giảng viên gọi là ngôn ngữ của ngành kĩ thuật
- Ban đầu tiếp xúc môn học này các bạn sẽ gặp nhiều khó khăn, đặc biêt là khi giảng viên từ khoa Kiến trúc.
- Dễ rớt nếu chủ quan, và một phần vì lạ.
- Cách học: khi học trên trường xong, về nhà nên coi lại và nghiên cứu về những thứ được học, làm và tìm hiểu các bài tập cuối bài-cuối chương. Khi học sẽ được giảng viên cho một số bảng ghi nhớ để học, vì môn này mới mẻ nên khó nói sâu, kỹ...vì vậy khi học cần quan tâm đến môn này.
- Bài tập của môn HHHH là giao giữa đường thẳng và đường thẳng, đường thẳng  và mặt phẳng, mặt phẳng và mặt phẳng, mặt phẳng  và khối ( trụ, chóp, nón,...).
- Điều cần chú ý để làm bài tập môn này là để ý tới hình chiếu suy biến( khi học sẽ biết), giới hạn của đề thi cũng chỉ ra ở bài tập có hình chiếu suy biến, ko có hình chiếu suy biến bài tập rất phức tạp vì vậy dề thi sẽ có một câu khó có thể là loại này chiếm khoảng 1đ.
- Tóm lại môn này nếu ai chăm chỉ sẽ qua dễ dàng...

Hình thức học tập tốt nhất luôn là chủ động, học nhóm và giải nhiều bài tập. Đề thi hàng năm đều thuộc dạng đã học nhưng phức tạp hơn nhiều hoặc có nhiều chỗ dễ sai. Chỉ khi bạn có mục tiêu rõ ràng, rèn luyện và phương pháp học tập đúng mới dạy kết quả cao nhất.

Nhân sự CLB hỗ trợ các bạn năm Nhất XD13:
Môn Toán Cao cấp 1: Lê Hồng Chí, Phạm Trung Nguyên;
Môn Vật lý đại cương: Nguyễn Thị Tuyết Hằng;
Môn Hình học họa hình: Trần Châu Báu, Nguyễn Đình Nguyên.

Câu lạc bộ sẽ tổ chức các buổi sinh hoạt theo chủ đề, bài tập báo trước cho năm Nhất. Các vấn đề, BT thắc mắc các bạn có thể gửi về FB Câu lạc bộ Xây dựng trẻ, email xaydungtre.103@gmail.com hoặc blog xaydungtre.blogspot.com.


Bài viết từ bạn Trần Châu Báu XD12.

[NCKH] SO SÁNH SỨC CHỊU TẢI CỦA CỌC KHOAN NHỒI VÀ CỌC BARRETTE

XEM XÉT SO SÁNH SỨC CHỊU TẢI CỦA CỌC KHOAN NHỒI VÀ CỌC BARRETTE

Tác giả: Hồ Nguyễn Tân Thuấn – X07A3
GVHD: PGS.TS. Tô Văn Lận
Đề tài đạt giải: - KK NCKH cấp trường 2011


TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Giải pháp nền móng sử dụng cọc khoan nhồi, cọc barrette ngày càng phổ biến, là một trong những giải pháp móng được áp dụng rộng rãi trong xây dựng nhà cao tầng ở trên thế giới và ở Việt Nam. Bài nghiên cứu này đi xem xét so sánh sức chịu tải của cọc khoan nhồi và cọc barrette, từ đó có những kết luận mang tính tổng hợp về hai loại cọc này giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về đặc tính của chúng, từ đó có thể đưa ra những giải pháp nền móng hợp lí và tối ưu.

1. Phần mở đầu
1.1. Cọc khoan nhồi
Cọc khoan nhồi là cọc  nhồi bê tông cốt thép được đổ tại chỗ có tiết dện tròn, đường kính cọc thường là 600 ~ 1500mm, độ sâu  35 ~ 60m hoặc có thể lớn hơn.
Các loại cọc khoan nhồi phổ biến:
- Cọc nhồi đơn giản:
+ Cọc nhồi đơn giản nông:
+ Cọc nhồi hình trụ sâu:
- Cọc nhồi có đáy mở rộng:
+ Mở rộng đáy tròn hoặc bất kì:
+ Mở rộng do khoan một đợt mở rộng hoặc nhiều đợt mở rộng suốt thân:

1.2. Cọc Barrette
Cọc barrette (hay còn gọi là cọc barette, cọc baret, cọc ba ret cọc ba rét), thực chất là một loại cọc nhồi bê tông, nhưng khác cọc khoan nhồi về hình dạng tiết diện, và phương pháp tạo lỗ: tạo lỗ bằng máy đào (cũng có khi gọi là máy cạp) để đào đất hoặc các phương pháp khác chứ không chỉ dùng phương pháp khoan bằng máy khoan. Tiết diện cọc nhồi là hình tròn còn barrette là chữ nhật, chữ thập, chữ I, chữ H...và được tạo lỗ bằng gầu ngoạm. Cọc Barrette được người Pháp cải tiến từ cọc nhồi để tạo ra sức chịu tải lớn hơn với cùng một thể tích bê tông sử dụng.

2. Kết quả tính toán sức chịu tải cuả cọc khoan nhồi và cọc Barrettt ở một số công trình trong thực tế.
2.1 So sánh khả năng chịu tải của cọc khoan nhồi tiết diện tròn và cọc barrette có cùng diện tích mặt cắt ngang:

H1. Mô phỏng quá trình kiểm tra hai cọc

H2. So sánh quan hệ tải trọng và độ lún  của cọc khoan nhồi và Barrette

2.2 So sánh sức chịu tải, công nghệ thi công của cọc khoan nhồi tiết diện tròn và cọc barrette ở công trình BECM Tower:

 H3. Mặt bằng cọc và vị trí cọc khoan nhồi và barrette được kiểm tra


H4.  So sánh sức chịu tải của cọc khoan nhồi và cọc barrette


3. Kết luận – Kiến nghị:
3.1 Kết luận:
Cọc barrette có sức chịu tải lớn hơn nhiều so với cọc nhồi (có thể lên hơn 1000T) nên dùng cho những công trình có tải trọng dưới móng rất lớn. Móng barrette thường sử dụng khi kết hợp làm tường vây và thường dùng cho loại nhà có 2 tầng hầm trở lên tuy nhiên giá thành thi công loại móng này thường đắt hơn nhiều (do công nghệ thi công) so với dùng cọc khoan nhồi. Trong dự tính sức chịu tải của cọc khoan nhồi, sức chịu tải theo ma sát bên đóng vai trò quan trọng. Như phân tích so sánh như trên sức chịu tải của cọc barrette là lớn hơn rất nhiều so với cọc khoan nhồi với cùng diện tích mặt cắt ngang. Như vậy có thể nhận thấy rằng cọc barrette là hiệu quả hơn về chỉ tiêu kinh tế đồng/m3 bê tông sử dung. Sức mang tải của cọc này có thể tăng lên tới 30% do tăng sức mang tải bên.
Tuy nhiên cọc barrette thi công là khó hơn để đảm bảo chất lượng đặc biệt là làm sạch đáy cọc trước khi đổ bê tông. Do vậy chi phí thi công cho cọc barrette sẽ nhiều hơn so với cọc khoan nhồi.

3.2 Kiến nghị:
Cọc nhồi là giải pháp móng tất yếu phải được áp dụng cho các công trình xây dựng với tải trọng lớn, tập trung như cầu, nhà cao tầng. Hiện nay, cọc nhồi được sử dụng đặc biệt phổ biến ở nước ta với tất cả các loại hình của nó từ cọc khoan nhồi đến cọc barrette và cọc khoan nhồi rửa, bơm gia cường đáy.
Cần xem công tác rửa, bơm gia cường đáy cọc nhồi như là một biện pháp kỹ thuật nâng cao chất lượng thi công cọc và quy định công tác này là một công đoạn bắt buộc trong quy trình thi công cọc nhồi nhằm khai thác triệt để khả năng mang tải của chúng.

THỦY LỰC CÔNG TRÌNH

1. Học phần học trước: Toán cao cấp, Sức bền vật liệu, Cơ lý thuyết.


2. Mục tiêu của học phần: cung cấp những kiến thức cơ bản nhất về thủy lực: phân tích các quy luật cân bằng và chuyển động của chất lỏng bao quanh các vật thể rắn hoặc chứa trong các vật thể rắn để vận dụng vào việc tính toán các tải trọng do chất lỏng gây ra đối với kết cấu công trình. Học phần này là cơ sở cho các HP Địa chất công trình, Cơ học đất, đá, HP Nền móng công trình. Đồng thời, HP trang bị cho SV những kiến thức thủy lực cần thiết để thiết kế và xây dựng công trình.

3. Nội dung học phần bao gồm:
Chương 1: Chương mở đầu: phương pháp nghiên cứu và mục đích môn học
Chương 2: Tĩnh học chất lỏng
Chương 3: Động học chất lỏng.
Chương 4: Động lực học chất lỏng.
Chương 5: Sức cản thủy lực, tính toán hệ thống đường ống.
Chương 6: Sóng và tải trọng sóng tác động vào công trình. (chương 5, 6 tham khảo)

4) Tài liệu học tập: SV tham khảo thteo ý kiến của Giảng viên
[1] Nhà xuất bản ĐHQG Tp.HCM, Khoa xây dựng, Bộ môn Cơ lưu chất, Giáo trình Cơ lưu chất
[2] Nhà xuất bản ĐHQG Tp.HCM, Khoa xây dựng, Bộ môn Cơ lưu chất, Bài tập Cơ lưu chất
[3] Trường đại học kiến trúc TP.HCM, Khoa xây dựng, Bộ môn nền móng, Bài giảng thủy lực công trình.
Tài liệu tham khảo thêm:
[4] Nhà xuất bản xây dựng, Hà Nội 1998, Nguyễn Tài, Thủy lực.
[5] Nhà xuất bản xây dựng, Hà Nội 2000, Nguyễn Tài, Bài tập thủy lực đại cương.
[6] McGraw-Hill, Frank M.White, Fluid mechanics.

5) Tiêu chuẩn đánh giá:
 Điểm kiểm tra giữa kỳ: Thang điểm 10 Trọng số 0,3
 Điểm thi kiểm tra cuối kỳ: Thang điểm 10 Trọng số 0,7 

6) Link tài liệu tham khảo:
* Một số Đề thi các năm

7) Kinh nghiệm học tập và sinh hoạt CLB:
Đây là môn học SV năm 2 gặp nhiều khó khăn nhất. Tỷ lệ rớt mỗi khóa rất cao đến khoảng 60(cả điểm D cải thiện). Học cải thiện Học kỳ hè cũng gặp nhiều khó khăn.
Kinh nghiệm học tập: giải nhiều bài tập bám sát đề thi giảng viên ra, đề thi thường có hai phần Lý thuyết và Bài tập cần học chắc cả 2 để được kết quả tốt. Giáo trình không cần mua nhiều hay chỉ in tham khảo 4 chương học chính vì hướng dạy tại trường khác và thực tế hơn giáo trình nhiều.

Trong tháng 11, CLB sẽ tổ chức 1 buổi thảo luận và hỗ trợ Thủy lực đại cương cho các bạn XD12.
Chúc các bạn học tốt môn này!

[NCKH] CÁC MÔ HÌNH TÍNH ĐẤT

[NCKH] CÁC MÔ HÌNH TÍNH ĐẤT



Nhóm Tác giả: Nguyễn Thị Hằng Nga X06A1

Nguyễn Ngọc Xuất

Trần Minh Phước

GVHD: Ths. KS. Đào Nguyên Vũ

I. TÓM TẮT


Hiểu và biết ứng xử của vật liệu, đặc biệt là đất, có thể nâng cao nếu đơn giản hóa được những yếu tố không quan trọng, trong quá trình phân tích dựa trên mô hình tinh giản thực tế.
Sử dụng mô hình Cam-Clay cải tiến, mô hình Mohr-Coulomb, mô hình Soft Soil, mô hình Hardening Soil. Mô hình sử dụng kết hợp độ cứng kép để mô phỏng mối quan hệ giữa biến dạng tăng bền đàn hồi và biến dạng đẳng hướng thay vì sử dụng một độ cứng. Và để mô phỏng quan hệ đàn hồi tuyến tính kết hợp với ý tưởng về chảy dẻo như trong mô hình Morh-Coulomb.


II. KẾT QUẢ

Đường cong chảy dẻo của mô hình Cam-Clay với đường cong chảy dẻo thực của đất vẫn còn khác nhau rất lớn. Mô hình Soft Soil là mô phỏng sự làm việc của đất ở trạng thái cố kết thường và có hệ số nén lún lớn, đất này có tính bảo hòa, lực dính nên chịu được một lực nén nhất định. 

Mô hình Hardening Soil là mô hình tiên tiến mô phỏng ứng sử nhiều loại đất đá khác nhau, chủ yếu là đất cứng, dưới tác động của tải trọng lệch, độ cứng giảm và sự trượt hình thành trong các thí nghiệm về thoát nước.

H. Các mặt dẻo của mô hình Hardening Soil

26/11/14

LÀM NGHỀ XÂY DỰNG CẦN PHẢI BIẾT GÌ?

KỸ NĂNG CẦN THIẾT CỦA NGƯỜI LÀM XÂY DỰNG

Thỉnh thoảng tôi có tham gia giảng dạy ở một số trường Đại học và một số khoá học chuyên môn. Nhờ những trải nghiệm thú vị này mà tôi có thêm được nhiều Đệ ( Đệ nhé, không phải đệ tử, vì tôi chưa đủ cơ để tự nhận mình là sư phụ). Các đệ hay hỏi tôi một câu rất thường, nhưng cũng rất khoai: “ Làm xây dựng cần có những yếu tố gì để thành công?”. Tôi cũng chẳng biết trả lời thế nào cho phải, vì tôi cũng chưa phải nhân vật vĩ đại gì, vẫn là một tên lất bất nhiều hơn. Thôi thì liệt kê những cái mà tôi nghĩ dân “ xi măng cát sỏi” chúng ta cần biết, cần có. Cái này, đơn thuần chỉ là liệt kê, có cái tôi đã làm được, có cái chưa, nhưng đại loại là vậy.



1. Phải biết đọc bản vẽ, lập dự toán, lập hồ sơ thầu: Cái này thì giống như làm bác sĩ phải biết dùng tai nghe, làm nông dân phải biết dùng cày cuốc vậy. Chưa vững  những cái này thì đừng nói đến chuyện “ hành nghề” làm gì. Mà những cái này, nhà trường chẳng dạy nhiều, nên  phải tìm hiểu thêm bên ngoài nhiều vào. Cái này thực là yêu cầu sống còn đối với người làm nghề xây dựng. Tôi đã từng gặp những bạn sinh viên có bảng điểm khá đẹp, nhưng loay hoay mãi với bộ hồ sơ thầu, không biết làm thế nào cho phải. Những tình huống như vậy, thật ko biết nên cười hay nên khóc nữa.

2. Phải biết kỹ năng tin học cơ bản: sử dụng tốt các phần mềm, xử lý tốt các sự cố thường găp của máy tính, sử dụng tốt tin học văn phòng. Sẽ có đôi lúc, bạn chẳng ở công ty mà nhờ bộ phận văn phòng hay bộ phận IT giúp đỡ. Nhất là những bạn thường xuyên đi công trình thì việc kiêm nhiệm đa năng như vậy càng nhiều, càng phải rành rẽ.

3. Phải biết tập trung cao độ trong công việc: Tôi thường đòi hỏi ở nhân viên tốc độ. Và không bao giờ chấp nhận kiểu làm việc cưỡi ngựa xem hoa. Có thể với tốc độ đó, anh sẽ có sai sót. Không sao, sai sẽ sửa. Nhưng không ai sửa nổi thái độ làm việc nửa vời, vừa làm vừa chơi được. Và tôi nghĩ ông sếp nào cũng vậy thôi, thích nhân viên làm 2 tiếng chơi 2 tiếng hơn là vừa làm vừa chơi trong 4 tiếng. Bạn cứ luyện sự tập trung và tốc độ đi, điều này sẽ giúp cho bạn rất nhiều.

4. Phải biết nhậu: Phải biết. Biết nhậu nghĩa là phải uống được, phải biết được điểm dừng, phải kiểm soát được bản thân. Hầu hết các chữ ký được thực hiện trên bàn nhậu, nên chỉ cần anh thể hiện sai phong độ thôi là đã có thể kéo theo những sai lầm đáng tiếc rồi. Nếu anh không biết nhậu, chẳng ai phạt được anh, chẳng ai bắt được anh, nhưng chắc chắn anh sẽ gặp khó khăn hơn những người biết cầm ly “1,2,3 Dzô” một cách vui vẻ! Vì cái này mà tôi đã phải trả giá khá đắt, phải sử dụng men hỗ trợ tiêu hoá trong một thời gian dài.

5. Phải có sức khoẻ: với những người đi công trình thì không nói làm gì rồi nhé. Thường xuyên sống trong môi trường thiếu thốn, thậm chí là nguy hiểm, nên sức khoẻ không đảm bảo thì chỉ có nước về nhà an dưỡng thôi. Nhưng những anh ít phải chạy đây chạy đó cũng phải chuẩn bị tinh thần cho những đợt cao điểm, có thể làm liên tục mấy ngày liền không ngủ, ăn bánh mì uống nước lọc trừ bữa. Bản thân tôi, giai đoạn cao điểm, đã từng kéo dài tình trạng ngủ 2 tiếng 1 ngày hàng tháng trời. Kiểu thư sinh mềm yếu, khó mà chịu được.

6. Phải chịu được nhiệt: Một phần như lý do thứ 4. Một phần nữa là phải chịu được những tình huống phát sinh khác: công trình gặp sự cố, bản vẽ và hiện trạng không giống nhau, sự chồng chéo công việc giữa các bộ phận. Chịu nhiệt trong công việc không bằng một phần so với chịu nhiệt từ những tác động ngoài. Anh mà không tỉnh, không vững sẽ bị tẩu hoả nhập ma, sẽ tự đưa mình vào một mớ bòng bong ngay.

7. Phải biết chửi: Nói một cách nghiêm túc đấy. Chửi làm sao cho nó sợ, nó phục mà nó ko thù dai. Chửi sao cho nó phải nghe mình mà không ấm ức. Chửi sao cho sau khi chửi vẫn kéo nhau đi nhậu được. Chửi sao cho nó chửi lại mình mà 2 thằng ko ghét nhau. Cả một nghệ thuật đấy. Phải biết tung hứng, biết mềm cứng đúng lúc, phải biết tạo kịch bản win- win vào phút cuối. Ấy mới là biết chửi. Với dân suốt ngày bê tông sỏi đá bản vẽ này không có dùng từ ngon ngọt dịu dàng được, phải đao búa mới chịu, mới khoái ( nhưng tôi cũng chưa được đến trình độ này, cũng đang tập chửi để lên level :D).

8. Phải biết quan hệ: Ngành nào cũng cần, nhưng xây dựng thì đặc biệt cần. Anh sẽ không bao giờ tồn tại nổi nếu anh không có bạn bè, không có đồng nghiệp. Anh phải biết làm việc nhóm. Anh phải biết ngẩng đầu lên để học hỏi các bậc tiền bối. Anh phải cúi xuống để giúp đỡ đàn em. Anh phải biết bắt tay với các đồng nghiệp, đối tác để mở mang tầm hiểu biết. Cái nghề mà khó nhận định ai giỏi hơn ai này, anh biết càng nhiều thì công việc của anh càng được hỗ trợ nhiều. Nếu anh có cơ hội được tham gia một dự án từ lúc mới bắt đầu nhen nhóm đến khi kết thúc, anh sẽ hiểu tầm quan trọng của các “ cánh tay phụ” của mình. Cũng là một may mắn khi tôi có những bậc tiền bối luôn sẵn sàng chỉ bảo, có những người bạn đồng nghiệp luôn sẵn sàng chia sẻ giúp đỡ. Có lẽ đây là điều quý nhất tôi có được trong sự nghiệp của mình.

9. Phải biết tự nghiên cứu: Cứ mỗi ngày không tìm hiểu, là một ngày mình bị tụt so với xu thế. Chưa nói gì xa xôi, riêng cái khoản cập nhật các thông tư, quy định mới của nhà nước về ngành cũng đã khiến anh hoạt động não bộ gần như hàng ngày rồi. Các công nghệ xây dựng mới, các phần mềm ứng dụng mới, các xu hướng mới... Chỉ cần một cái không biết, cũng có thể dẫn đến nguy cơ khi ngồi nói chuyện mà mình như đứa trên sao Hoả xuống, vì người ta nói đông nói tây mà mình chẳng hiểu gì sất.

10. Phải biết chém gió: Lại nói về nói đông nói tây. Anh biết, nhưng anh không biết cách  nói, không biết cách dẫn dắt diễn đạt thì cũng hỏng. Cùng một vấn đề, nhưng cách nói khác nhau sẽ đưa đến những kết quả khác nhau. Cùng một vấn đề, cùng một cách giải quyết, nhưng đôi khi chủ đầu tư lại gật gù tán thưởng với anh A mà khăng khăng không chấp nhận anh B, ấy là vì “ cái miệng có gió” của anh A mạnh hơn anh B. Cái này phải luyện nhiều, thuyết trình nhiều, trình bày nhiều, phản biện nhiều, và như trên đã nói, đôi khi phải chửi nhiều :D

11. Phải biết đặt mình vào vị trí người khác: Cái này là điều cần thiết để có thể đưa ra được yếu tố Win- win. Đôi khi cũng phải đứng phơi nắng phơi sương, cầm cái bay để hiểu cái cực của công nhân. Đôi khi cũng phải “ nghe chửi” từ chủ đầu tư để biết các sếp của mình áp lực thế nào. Đôi khi cũng phải chịu nghèo chịu khổ để biết cảm giác của cả đội khi bị chậm thanh toán. Và đôi khi cũng đặt mình vào trường hợp người khác để biết người ta sai sót chỗ nào mà chấn chỉnh – biết người biết ta ( cái này thì hơi phũ phàng).Nói chung, khi mình biết đặt mình vào vị trí người khác, mình sẽ hiểu hơn, sẽ biết thông cảm hơn, từ đó sẽ win- win một cách đơn giản mà vui vẻ hơn. Nguyên tắc này luôn đúng, trong mọi trường hợp.

12. Phải biết chơi thể thao: Không chỉ để rèn luyện thân thể, mà đây còn là một cách để xả xì trét, hơn nữa còn làn một kênh để kết nối với nhiều người. Sau một ngày bù đầu với bản vẽ hoa cả mắt, kéo nhau đi làm một trận đá bóng, một chầu tennis. Đó cũng là một cơ hội để đồng nghiệp gần gũi với nhau hơn, sếp gần với nhân viên hơn.( Nhân tiện, có bạn nào tư vấn cho tôi môn thể thao nào hợp với người béo phì, cận thị như tôi không, chỉ với)

13. Phải biết hưởng thụ: Làm việc trong môi trường áp lực như vậy, nếu anh không biết hưởng thụ cuộc sống, anh sẽ khó có được trạng thái cân bằng. Đây cũng là vấn đề thường gặp của dân trong nghề: “ không cân bằng được công việc và cuộc sống”. Lâu lâu tự thưởng cho mình một kỳ nghỉ đúng nghĩa với gia đình, học một môn nghệ thuật nào đó( nhiếp ảnh chẳng hạn). Cuộc sống sẽ “ dễ thở” hơn nhiều khi mình biết “ quẳng gánh lo đi và vui sống”.

14. Phải biết chấp nhận thất bại: Thất bại nhỏ là khi bản vẽ bị gạch te tua be bét. Thất bại vừa là khi rớt hợp đồng. Thất bại lớn là khi..( thôi cái này không nói đâu). Còn nhiều các thể loại thất bại nữa. Nhưng đã làm nghề xây dựng, anh phải biết chấp nhận điều đó. Mỗi khi gặp thất bại, hãy nghĩ đến quy luật được- mất. Và có một bí mật nhỏ, bạn gặp thất bại càng sớm, thì bạn thành công càng sớm. Và những thất bại bạn gặp khi còn trẻ tuổi sẽ dễ vượt qua hơn là khi bạn đã nhiều năm tuổi nghề rồi mới gặp. Bắt đầu sự nghiệp riêng lúc 23 tuổi, không biết bao nhiêu lần bầm dập, bao nhiêu lần te tua từ “cõi ấy” trở về, để đến giờ tôi có cái nhìn hoàn toàn khác về những khó khăn.Vậy nên, đừng ngại thử thách, đừng vì 1 thất bại nhỏ mà nản. Bạn đang gặp may đấy, vì bạn gặp chúng sớm hơn, sau này bạn sẽ không bao giờ gặp lại nữa.

15. Phải biết đam mê: Trong cái thế giới khô khan của ngành xây dựng, nếu anh không đủ lửa để giữ đam mê với nghề, nhiều khả năng anh sẽ bị out, hoặc là tự out. Nhiều người sau một thời gian theo đuổi đã rẽ sang nghề khác là vậy. Áp lực, vất vả, bị nhiều yếu tố chi phối là đây. Nên nếu như anh cứ mãi sống xoàng xoàng, cứ mãi dật dờ, thì không sớm thì muộn anh sẽ cảm thấy như mình đã chọn nhầm nghề!
...
....
....
…
Còn nhiều cái phải nữa. Nhưng nói nhiều thành ra lại là đứa đi dạy đời, và chắc chắn khi đọc cái này sẽ có nhiều người nói tôi xúi dại :D, vì có những cái “phải biết” sao mà tào lao bí đao quá. Thôi tào lao vài dòng vậy đã, ai thấy kiếm được chút gì hay thì cứ thế mà dùng. Thằng bạn ới đi làm vài chai để luyện công rồi :D. Nếu các bạn hứng thú thì Version 2 sẽ nói thêm :D.

Nguồn: Nguyễn Tiến Toàn – CTSC – www.ctsc.vn

KẾT CẤU BÊ TÔNG CỐT THÉP 1 & 2

KẾT CẤU BÊ TÔNG CỐT THÉP 1 & 2


Hình: Một công trình biệt thự Quận Tân Bình(Nguồn: Anh Dương Chí Dũng)

1. Điều kiện ràng buộc
- Học phần tiên quyết:  Sức bền vật liệu 1 và 2, Cơ học kết cấu 1.(Bắt buộc phải học trước để có kiến thức căn bản về hệ chịu lực và biến dạng, đặc trưng hình học…)
- Học phần học trước:  Vật liệu xây dựng, Cơ học đất. (Có ảnh hưởng đến môn học. Giúp ích cho việc liên kết giữa các môn học. Chủ động về mặc kiến thức)
- Học phần song hành:  Kết cấu gỗ - gạch đá, Kết cấu thép 1, Cơ học kết cấu 2, Nền 
móng công trình. (Có thể học qua hoặc chưa học không quan trọng. Nhưng các môn này có mối quan hệ lẫn nhau. Nên vận dụng kiến thức đã học để liên kết các môn học trên lại với nhau)
-       Phần mềm cần biết: Excel, Autocad, Sap2000 hoặc Etabs. Kỹ năng trình bày văn bản, báo cáo.

2. Nội dung: Cấu kiện cơ bản. Các nội dung chủ yếu của môn:
LÝ THUYẾT
Chương 1: Tính chất cơ lý của vật liệu BTCT 
Chương 2: Nguyên lý cấu tạo kết cấu BTCT
Chương 3: Cấu kiện chịu uốn(tính theo TTGH I)
Chương 4: Kết cấu sàn
Chương 5: Cấu kiện chịu nén
Chương 6: Cấu kiện chịu kéo - chịu xoắn
Chương 7: Tính toán kết cấu BTCT theo TTGHII
Chương 8: Khái niệm kết cấu BTCT ứng lực trước

PHẦN THỰC HÀNH ĐỒ ÁN: KẾT CẤU SÀN SƯỜN TOÀN KHỐI CÓ BẢN DẦM
Chương 1: Thiết kế bản
Chương 2: Thiết kế dầm phụ
Chương 3: Thiết kế dầm chính

3. Mục tiêu của học phần
Đối với BTCT 1:
- Nắm được các nguyên lý cơ bản trong tính toán và cấu tạo kết cấu BTCT. ( Chú ý rằng kết cấu BTCT rất phổ biến ở VN nên việc biết cách thiết kế các cấu kiện cơ bản là rất cần thiết cho việc học tập và nghiên cứu, thực hành => Cần chú trọng kiến thức môn này)
- Biết các cách cấu tạo và tính toán các cấu kiện cơ bản của kết cấu BTCT.
- Biết cấu tạo và tính toán các dạng kết cấu sàn BTCT toàn khối.
- Là tiền đề để học BTCT2 các cấu kiện nhà cửa và cấu kiện đặc biệt
Đối với BTCT 2:
- Có được kỹ năng tính toán cấu kiện đặt biệt: Cầu thang, bể nước …Phục vụ cho đồ án tốt nghiệp.( Sinh viên thường không  nắm vững kiến thức phần này )
- Biết quy trình tính môn hệ công trình bên trên bằng BTCT.

3. Nhận định về môn học
- Là môn được xem và môn chính , chủ yếu và quan trọng đầu tiên của sinh viên năm 3. Gắn liền nhiều kiến thức quan trọng cho công việc thiết kế. ( Nếu có định hướng thiết kế nên học tốt môn này)
- Độ khó: cao. Là môn đầu tiên của năm 3 có thực hiện đồ án. Với dung lượng làm việc nhiều ( đồ án + bài tập tiểu luận, giữa kì + kiểm tra cuối kì) nên cần tập trung học tập , tìm kiếm tài liệu để có thể thao tác các quá trình đúng và không sai sót, tránh tình trạng mất thời gian.
- Nên tập trung các chương chính như: Kết cấu chịu uốn và kết cấu chịu nén. Và tìm hiểu( đọc để biết không cần đi chi tiết do chủ yếu là các thông số và phương thức ): Kết cấu sàn , dầm , thông số bê tông…
- Để học hiệu quả cần: Trang bị đầy đủ sách vỡ ( Sách giáo trình, sách tham khảo, tài liệu trên mạng : các tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam, bảng tra số liệu bê tông cốt thép), trang thiết bị (máy tính và laptop), kiến thức ( kiến thức chuyên ngành, kỹ năng tìm kiếm tài liệu, kỹ năng tra cứu và tự học, khả năng chuyên môn về tin học: Autocad, Excel, Visual Basic, MATLAB. Càng biết nhiều càng tốt nhưng bắt buộc phải thông thạo Autocad)

Đối với BTCT 2 cần:
- Nắm vững cách tính thép sàn, dầm, cột của BTCT1 và do số lượng tính toán nhiều nên thực hiện file tính excel tự viết cho các cấu kiện đó ( đòi hỏi kiến thức và phần mềm , nên chuẩn bị trong lúc đang học)
- Cần sử dụng tốt sap2000 và etabs tính toán nội lực.
- Chú trọng chương II và kiến thức BTCT 1 ( kiến thức từ BTCT1 là chủ yếu) để làm đồ án  và chú trong Chương II,IV,V để thi cuối kì chiếm 50% số điểm còn lại là đồ án.

4. Tài liệu tham khảo
[1] TCVN 5574:2012: Kết cấu Bê tông và BTCT - Tiêu chuẩn thiết kế
[2] TCVN 2737:1995: Tải trọng và tác động
[3] Phan Quang Minh , Ngô Thế Phong, Nguyễn Đình Cống, Kết cấu Bê tông cốt thép, NXB KHKT Hà Nội, 2011.
[4] Nguyễn Đình Cống, Tính toán tiết diện cột BTCT , NXB Xây dựng, 2006.
[5] Nguyễn Đình Cống, Sàn sườn bê tông toàn khối, NXB Xây dựng, 2008.
[6] Nguyễn Văn Hiệp, Hướng dẫn đồ án môn học BTCT 1: Sàn sườn toàn khối có bàn dầm, NXB ĐHQG TP.HCM, 2007.
[7] Bộ xây dựng, Cấu tạo bê tông cốt thép, NXB Xây dựng, 2004.
[8] Nguyễn Khắc Mạn, Nguyễn Hữu Anh Tuấn, Đỗ Huy Thạc, Giáo trình Kết cấu Bê tông cốt thép, Trường Đại học Kiến trúc TP.HCM, lưu hành nội bộ năm 2008.

Sử dụng tài liệu: Tính toán theo Tiêu chuẩn Việt Nam và các Quy phạm mới nhất do Bộ Xây dựng ban hành. Các bạn có thể tham khảo các sách sau theo thứ tự ưu tiên.
Thư mục tham khảo: Tại đây.

Bài viết dựa trên tổng hợp và kiến thức của một sinh viên Năm 4 ĐH Kiến trúc TP. HCM dựa theo Đề cương môn học của Khoa Xây dựng-ĐH Kiến trúc TP .HCM. 
Mọi thắc mắc và góp ý xin gửi về CLB Xây dựng Trẻ: Facebook.com/xaydungtre.103 hoặc xaydungtre.103@gmail.com.
- BCN Trương Cầu Vinh-

18/9/13

SỨC BỀN VẬT LIỆU 1

[NĂM 2 - HỌC KỲ 3]

SỨC BỀN VẬT LIỆU 1: 

Chương trình đào tạo HK3 gồm: Toán Cao cấp 3(3 TC), Sức bền vật liệu 1(3 TC), Thủy Lực(3 TC), Địa chất công trình(3 TC). 

Trong đó, Sức bền vật liệu 1 là môn học kỹ thuật cơ sở quan trọng, nhằm trang bị cho sinh viên có những kiến thức cơ bản về phương pháp tính độ bền, độ cứng và độ ổn định của thanh dưới tác dụng của ngoại lực. Môn học cung cấp các kiến thức cơ bản để sinh viên có thể tiếp thu tốt học phần 2 và các môn học chuyên ngành như: kết cấu bê tông cốt thép, kết cấu thép, kết cấu gạch đá, kết cấu gỗ, … và hoàn thành tốt việc tính toán kết cấu các công trình.
 

Welcome to the Club